Thứ tư, ngày 22 tháng tám năm 2007

Nam Dương anh hùng truyện (2)

Hồi thứ hai:
Tĩnh Cảng điếm xảo thủ kiến thiết tâm
Phong Tình viên tứ long phùng dị khách

(Hồi một ở đây)

Lại nói, Thiết Diện Diêm Vương Đinh Xuân Thắng bước vào đại sảnh, tiến đến sau lưng bọn tân môn sinh, gầm lên 1 tiếng rồi chỉ vào mặt bọn ba người Quang, Minh, Huy thét lớn:

- Các người giỏi thật, vừa mới gia nhập bổn bang đã hành sự tùy tiện, nói cười oang oang, không coi kỉ luật ra cái gì hết. Để ta phải dạy cho 3 bọn ngươi 1 bài học.

Bọn tân môn sinh cơ bản thuộc loại cơ trí tốt, lại thi được vào đại bang này hẳn phải có linh tính, sao đến nỗi để Thiết Diện Diêm Vương đến sau lưng rồi mà không hay. Một phần vì bọn họ mải vui đùa mà không để ý, nhưng Đinh lão đạo sĩ tu luyện nhiều năm, lại dùng tuyệt kỹ thành danh là chiêu Dạ Hành Tầm Sinh (đi đêm bắt sinh viên) để bắt quả tang thì sao bọn đệ tử này thoát được. Gốc trong Bách Khoa bang thì Đinh đạo sĩ chỉ đứng hàng trung lưu, không được trọng vọng nhiều, nhưng có áp lực đối với chúng đệ tử nên còn được kính sợ hơn cả bang chủ, người bọn đệ tử chỉ kính nhi viễn chi (đứng đằng xa mà cung kính chứ chả có cơ hội tiến lại gần)

Cả lũ bị Thiết Diện Diêm Vương quát mắng một hồi, mặt tái xanh tái xám. Trong bụng nghĩ thầm phen này bao nhiêu cơm áo gạo tiền để thi thố được vào đây thế là đi tong. Tuy nhiên thiên hạ vẫn có câu “đói ăn vụng túng làm liều” quả không sai bao giờ. Trong lúc bí bách, Đa ngôn xảo thủ Nguyễn Quang Huy bèn tiến lên uốn lưỡi bảy bảy bốn mươi chín lần rồi cung kính bẩm rằng:

- Thưa lão tổng quản, chúng tiểu sinh vốn quê mùa dốt nát, cũng đâu dám không hiểu phép tắc lễ nghi chốn uy nghiêm này. Chỉ là nhất thời gặp nhau kết giao mà làm kinh động đến tiền bối, xin tiền bối bớt giận cho.

Của đáng tội Thiết Diện Diêm Vương chỉ muốn ra uy cho bọn chúng sợ hãi. Nay thấy mặt mày ai đấy đều rúm ró khó coi cũng lấy làm hả dạ. Bèn hạ giọng mà nói với Huy rằng:

- Ta đây thực chẳng phải cố chấp mấy chuyện cỏn con đấy, lần đầu gặp mặt ta cho các người thấy cái uy của ta đó thôi.

Đoạn hướng về phía bọn kia mà đe:

- Các ngươi đã vào đây thì nhớ dụng tâm mà tu dưỡng, nhất nhất tuân theo lời ta thì sau này sẽ thành tài. Mà trong số mấy nghìn người các người, được dăm người dương danh thiên hạ là đã giỏi lắm rồi.

Đoạn truyền cho tì nữ theo hầu cầm bảng danh sách của Bách Khoa bang, đã chia thành từng nhóm nhỏ dán lên cho bọn chúng đọc. Tì nữ đi theo Đinh đạo sĩ mặc áo Bố Sỉ Nhĩ (Bossini) quần Độc Khả (Docker) chân lại đi giày A Dĩ Đạt (Adidas), trông rất sành điệu khiến quần hào hâm mộ không biết là ai. Người này từ lúc vào chỉ đứng sau lưng họ Đinh mà không nói gì cả. Vài kẻ mạnh dạn liếc mắt đá lông nheo nhưng thị vẫn tuyệt nhiên mặt lạnh như băng không để ý tới. Thực ra trong Bách Khoa bang chẳng có đệ tử nào ở quá một năm mà không biết danh cô nương này. Vị này thường được giang hồ xưng là Khoái thủ cô nương Trần Thu Hà, đã từng tu luyện ở biên ngoại, có song thủ nhanh thoăn thoắt, tuyệt kĩ đếm ngân phiếu vừa nhanh vừa chính xác, trước không hiểu được kì nhân dị sĩ nào truyền dạy, khi hạ sơn được Đinh đạo sĩ vời về làm công việc thu học phí, kiểm soát kim ngân tài vật cho Bách Khoa bang, nhân tiện phụ giúp Đinh phu nhân cũng làm công tác tại Đào tạo phòng. Khoái thủ cô nương cũng là người thấu tình đạt lí, nhiều lúc trước mặt Đinh phu nhân nói đỡ hộ đám môn nhân bản bang chậm đóng tiền học phí nên được bọn môn đồ yêu quí. Cũng không trách được Đinh phu nhân quản lí kim ngân tài vật của đại bang, mỗi tháng tiếp nhận cả trăm triệu ngân phiếu mà không được để sai sót, thành ra đôi khi khó tính với bọn môn nhân không chịu đọc kĩ hướng dẫn trước khi đóng tiền.

Lại nhắc đến bảng danh sách, các tân môn sinh theo lối ngẫu nhiên mà chia thành bát thập nhất tiểu xá luyện công, rồi 5 tiểu xá gộp lại học trong cùng một đại giải đường để nghe giảng đạo. Ai cũng tấm tắc khen Bách Khoa quả không hổ danh đại bang qui củ hơn người. Bạch diện thư sinh và Khẩu đa mao được chia vào tiểu xá số lục thập thất và lục thập cửu (67, 69) nghe giảng đạo vào mỗi buổi chiều trong khi họ Nguyễn được phân vào lớp tam thập bát luyện công lúc sáng. Vì vậy mà cũng ít được gặp nhau.

Nhân đây kể thêm cái sự học ở Bách Khoa bang cho độc giả giải trí. Còn nhớ để lều chõng luyện thi vào trường, sĩ tử đã phải ăn đói mặc rét, chen chân ở trọ. Giờ vào được rồi thì đỡ hơn, đa phần các môn sinh ở xa được đưa vào Ký túc đại xá ở, mỗi phòng có chừng năm sáu cái giường tầng, nằm ngủ học bài ăn uống đều tiến hành trên cái giường của mình hết. Thường mỗi người có một chiếc thùng to để ở đầu giường, trong đấy chứa sách vở và các thứ tùy thân khác, tuy nhiên cảnh ở hỗn độn như vậy, chuyện mất đồ mất đạc xảy ra như cơm bữa.

Chuyện ở như vậy, còn chuyện ăn thì sao. Xin thưa với bạn đọc là bấy giờ đa phần sinh viên đều đi ăn ở các hàn quán nhan nhản bên cạnh trường. Mỗi tháng với số kim ngân tài vật ít ỏi gia đình chuyển cho, lại phải chia ra nào tiền ở, tiền học, tiền sinh nhật bạn bè, tiền mua sách vở, cuối cùng tiền ăn chẳng còn mấy. Chả thế mà mỗi khi ra quán đám môn sinh chỉ dám ngồi ngửi thức ăn rồi gọi một đĩa cơm với miếng đậu phụ hay vài cọng rau xào, thêm bát canh hành luộc. Có người lấy thơ cổ nhân mà chế ra vịnh bát canh rằng:

Tô canh lạnh lẽo nước trong veo
Một cái hành tươi bé tẻo teo...

Hay thậm chí tự sáng tác ra thơ:

Chưa ăn thì thấy bồi hồi
Ăn rồi đứng dậy như hồi chưa ăn...

Dẫu ăn uống tiết kiệm là vậy mà mấy ai thoát khỏi cảnh túng thiếu nợ nần. Mỗi khi lỡ lên danh Chúa (Chổm), các chủ quán bên ngoài hay cho bọn môn sinh ghi nợ, trả dần. Để đền cái ơn cái nghĩa đấy, các môn sinh thường gọi chủ quán là thày là u, cung kính như cha mẹ mình. Thật đúng là:

Ðã tiếng sinh viên phải cạn tiền
Phải đi cắm quán, chạy liên miên
Cắm đi cắm lại rồi cắm tiếp
Cắm nhiều mới đáng mặt sinh viên...

Ngày nọ tiết trời nóng bức, Đa ngôn xảo thủ tiểu tử đang ngồi một mình dưới Tĩnh Cảng điếm (căng tin) thưởng thức Lãnh băng bát bửu trà (trà đá). Cũng phải nói thêm, phàm nhân sĩ trong thiên hạ, đã vào các đại học bang ai cũng từng thưởng thức qua Lãnh băng bát bửu trà, thứ giải khát vừa rẻ tiền vừa hạ nhiệt, chưa kể chỗ trà quán, tửu lâu vốn là chỗ dễ trò chuyện, ba hoa đủ mọi thứ trên đời. Đa ngôn tử đang ngồi nhâm nhi cốc trà thì cửa quán bật mở, một đại hán mặc áo sát nách trên ghi dòng chữ tiếng ngoại bang rất khó hiểu “Fancy a fcuk?” lầm lũi bước vào, theo sau là một đám lâu la chừng dăm tên nhốn nháo. Vừa thấy người này bước vào, tiếng trò truyện trong Tĩnh cảng im bặt. Một vài kẻ nhớn nhác đứng lên nhường chỗ. Đại hán đến cái bàn ở giữa rồi ngồi phịch xuống, hướng về phía bà chủ quán hô to:

- U cho con 6 cốc lãnh trà thêm dăm cái kẹo lạc và nửa bao Vi Nã đan.

Chủ quán là người lọc lõi trong nghề, biết ngay khách không phải loại thường bèn mau mắn rót ra 6 cốc trà nóng. Đoạn dùng công phu Tán Băng Bổng pháp, cầm chiếc chày giã cua nện vào túi đá, trong nháy mắt đá đã vụn đều, rồi cho vào cốc sai tiểu nhị dâng trà lên. Đám mới vào uống Lãnh băng trà, ăn kẹo lạc cười nói râm ran. Chủ quán qua bàn họ Nguyễn dọn dẹp rồi nói nhỏ:

- Tay này tên Thiết tâm Trịnh Doanh, cũng mới vào bang này, vốn là 1 kẻ lạnh lùng ít lời. Không hiểu làm thế nào tụ tập được một đám lâu la, mà ai cũng nể sợ hắn.

Đa ngôn xảo thủ bèn dụng tâm quan sát đại hán nọ thì thấy quả không hổ danh là thiết tâm (tim sắt). Ngồi giữa đám lắm lời kia mà hắn chỉ thi thoảng hớp vài ngụm trà rồi lại nhìn lên trời suy tư như không thèm bàn mấy chuyện nhảm nhí bọn kia đang nói. Nhưng nhìn kĩ, người này mặt mày đôn hậu, trán cao mắt sáng, quyết không phải kẻ xấu, không những vậy còn trầm tĩnh điềm đạm. Họ Nguyễn trong lòng đã quyết, liền đứng lên đi sang bàn đó vái dài một cái rồi nói:

- Tại hạ họ Nguyễn tên Huy cũng sinh ra lớn lên ở đất Hà Thành, lại đồng liêu (cùng khóa) với huynh. Nay thấy huynh đài là người xem ra có nhiều điều thú vị, muốn kết thân không hiểu có được không.

Trịnh Doanh giật mình trừng mắt lên nhìn vì y chưa gặp ai như vậy bao giờ. Nhưng chỉ một thoáng lấy lại bình tĩnh bèn giơ tay ra ngụ ý mời ngồi. Đợi họ Nguyễn ngồi xuống gã mới nói:

- Bốn bể là bạn bè, các hạ có lòng xin ngồi uống nước nói chuyện.

Đoạn lấy trong bao Vi nã đan để trên bàn một vật hình trụ tròn, một đầu được đánh dấu vàng ngậm vào mồm, lại rút trong túi quần ra 1 vật bằng bạc trên in chữ Zippo ngoằn nghèo, bên trong có cơ cấu bánh xe rất tinh xảo, tay thi triển 1 thủ pháp linh hoạt bóp mạnh 1 bên bánh xe, bên kia bánh xe 1 tia lửa chợt xòe lên. Họ Trịnh dí tia lửa vào đầu thanh đan dược, vận công thổi mạnh, thanh đan dược bỗng cháy đỏ. Hắn chợt hít sâu vào rồi rút nhanh thanh đan dược ra, miệng nhả những vòng khói ngoằn nghèo bay trên không. Thấy họ Nguyễn mắt tròn mắt dẹt nhìn như thể vừa từ hỏa tinh bay về, hắn giải thích:

- Cái này là Vi nã Châu Yên linh đan, vốn lấy từ chữ châu nghĩa là hút, còn yên là khói, trong giang hồ truyền gọi là thuốc lá Vinataba. Chẳng hay túc hạ là người biết nhiều đã nghe đến bao giờ chưa?

Đa ngôi xảo thủ toát mồ hôi vì quả thật gã chưa nghe thấy mấy cái này bao giờ. Bỗng chợt nhớ thời trung học phổ thông, học tại Mễ trì kí túc xá cung, ngày nào đi qua Nguyễn Trãi quan lộ cũng ngửi thấy mùi hao hao giống thế này. Bèn ứng tiếng mà rằng:

- Tiểu đệ kiến thức thô lậu cũng không được biết nhiều về mấy tiên dược này. Nhưng thủa nhỏ khi đi học hay qua khu Nguyễn Trãi lộ, thấy ở đó có luyện linh đan hương thơm bay khắp nơi. Phải chăng chính là loại này.

Trịnh Doanh rằng:

- Túc hạ quả minh tinh hơn người, đúng là loại này. Nơi đó còn được gọi là Thăng Long Châu Yên linh đan luyện, chuyên luyện loại linh đan này rồi bán đi khắp các nơi. Châu Yên linh đan rất thông dụng trong giang hồ vì khi căng thẳng mệt mỏi hay thấy lạnh lẽo chỉ cần châm lửa đốt rồi hút vào là thấy thân thể nhẹ nhàng, tinh thần thoải mái. Lại khi lâm trận chẳng may bị xuất huyết thì xé vỏ giấy ra, lấy lá ở bên trong đắp sẽ cầm máu ngay. Chưa kể xem băng hình lậu ở nhà lắm lúc bị bẩn đầu từ cũng có thể lấy giấy bọc mà lau bởi loại giấy này mềm mỏng mà dai, không làm xước đầu từ.

Họ Nguyễn thở dài rồi bảo:

- Cổ nhân nói quả không sai, đi 1 ngày đàng học một sàng khôn. Chỉ tiếc là tiểu đệ chẳng có phúc phận thưởng thức loại tiên dược này. Trịnh huynh cứ tự nhiên cho, còn đệ xin kính bằng 1 chén trà.

Đoạn cầm chén trà lên miệng nhấp nhấp, khà 1 cái rồi nhìn ra cửa, không để ý gì đến thứ tiên dược kia nữa. Thực ra thì thiên hạ cũng đồn nhiều về loại linh đan này, quả có nhiều công hiệu tốt như giữ ấm người, làm giảm xì chét, thậm chí có kẻ còn mạnh mồm quảng cáo là “thơm mồm, bổ phổi, diệt trùng lao” nhưng lại có nhiều lời đồn dùng lâu sẽ bị nhiễm độc, ho lao, thối phổi, vàng răng… tóm lại chẳng biết thế nào mà lần nên tốt nhất chẳng dại gì động đến. Trịnh Doanh rít xong điếu thuốc bèn đứng dậy phủi bụi kẹo lạc trên quần bò rồi nói:

- Tuy mới gặp bác nhưng tôi thấy rất có hứng thú. Vậy nếu bác có lòng xin hẹn 2 tháng sau, tới đợt “tận kỳ kiến thức khảo sát” sẽ cùng nhau ôn luyện, giờ xin cáo từ.

Hai tháng sau, sinh hoạt trong Bách Khoa bang đã vào qui củ. Vào đợt thi cuối học kỳ, đám môn sinh đệ tử rải rác khắp nơi, ai cũng cầm sách vở dày cộp mà đọc lảm nhảm. Cũng may kỳ đầu chưa có gì quá căng thẳng, mới chỉ một vài kiến thức đại cương, trong đó đáng chú ý là cuốn bí kíp “triết học lịch sử luận”. Cuốn này bàn về những bậc đạo sĩ tu luyện đắc đạo từ thời cổ đại như Á Nhĩ Độ (Aristotle), Hê Loa hay những bậc hiền triết gần đây hơn như Đề Các, Khổng Tử, Lão Tử, lại thêm cả những đạo sĩ tây phương như Các Mặc (Karl Marx) hay Ánh Nghinh (Engels), thôi thì đủ hết.

Bạn đọc cũng đừng trách tác giả dài dòng kể ra mấy vị đã qui tiên ấy làm gì, vì sau này các nhân vật của chúng ta sẽ sớm phải học thêm những thứ trên trời dưới biển của các vị nọ mà chẳng thiếu một ai, nên trước sau gì cũng phải nhắc đến mà thôi.

Lại nói đến chuyện thi cử, vốn môn qui của Bách
Khoa bang và các bang hội khác nói chung rất khắt khe, cứ sáu tháng một lần lại có một đợt “tận kỳ kiến thức khảo thí”, kiểm tra xem môn sinh có nắm được hết các cái tinh túy của những pho bí kíp được truyền thụ trong sáu tháng không. Ai không vượt qua sẽ phải thi đi thi lại đến khi được thì thôi. Chẳng thế mà có thơ rằng:

Năm năm là chín kỳ thi
Một kỳ tốt nghiệp còn gì là xuân ...

Có kẻ thi trượt , tự an ủi mình:

Học hành chăm chỉ làm chi
Tú Xương còn rớt huống gì là tao.

Đúng hẹn, Xảo Thủ kéo thêm Bạch Diện và Khẩu Đa Mao đến gặp Thiết Tâm. Qua mấy lời xã giao ban đầu họ đều nhận ra cốt cách anh hùng của nhau, lại chung hùng tâm tráng chí muốn dương danh thiên hạ nên rất dễ thân thiết. Tứ vị hội cùng ôn luyện rồi vượt qua kì thi tốt đẹp, về sau càng hay đàn đúm chơi bời, cùng nhau hưởng thụ vui thú kể ra không hết. Bốn người từ đấy mà được đám giang hồ phong cho là Tứ đại phong lưu công tử.

Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Kỳ sau đó các môn sinh đệ tử phải tham thiền một số kiến thức cao thâm, ai cũng lấy làm lo sợ không dám chểnh mảng học hành, thành ra Tứ đại công tử cũng ít qua lại tụ tập hơn. Trong các môn học kì ấy có môn “chủ nghĩa xã hội chính trị quan điểm học” là một tâm pháp siêu phàm, vốn được Các Mặc và Ánh Nghinh tu luyện nhiều năm trên đỉnh sơn nghĩ ra. Sau thuật này lại được vị cao tăng đắc đạo bên Nga Ta Lư tây quốc họ Lê, tên Nin thi triển thành, bổ xung thêm nhiều yếu quyết tập luyện, cuối cùng du nhập vào Âu Lạc quốc nhờ vị cao thủ mấy chục năm trước là Hồ Chí Minh. Khẩu quyết nhiều chỗ vô cùng trúc trắc khó hiểu, đám môn sinh luyện tập suốt mấy tháng ròng mà vẫn không sao nắm hết được.

Có người hỏi Bách Khoa bang rộng lớn như vậy, thêm nữa toàn nam nữ đệ tử tuổi mới mười tám đôi mươi, thể nào chẳng nảy sinh tình cảm luyến ái. Quả đúng là dẫu bị cơm, áo, gạo, tiền hành hạ, nhưng có một thứ mà họ không thể nào bỏ qua được, đó là chuyện yêu đương. Khẩu hiệu rằng: "Ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương, học bình thường, yêu là chính". Ðến nỗi:

Cỏ non xanh tận chân trời
Còn anh xanh cả con người vì yêu...

Thế những lúc hẹn hò, các cặp uyên ương thường đi đâu? Không lẽ lại ra Tĩnh Cảng điếm uống trà nói chuyện tầm phào thì còn gì là lãng mạn. Xin thưa ở ngay khu trung tâm của bản bang, trước cửa Đệ nhị xê đại sảnh là một khu hoa viên rộng lớn, trồng đủ các loại hoa thơm cỏ lạ, có cả tre trúc xanh um tùm rất kín đáo, nên thường được các đôi nam nữ chọn làm nơi tâm sự. Đồn rằng khi xưa khu đất này còn được dùng để treo kẻng báo cơm trưa cho các vị sư phụ biết đã chính ngọ (12h trưa) mà xuống Tĩnh Cảng ăn. Hoa viên ấy vì thế mà mang tên Phong Tình viên.

Tuy nhiên vào những lúc nước sôi lửa bỏng giữa kỳ thi thì nơi ấy lại thành chỗ luyện công của hàng trăm môn nhân. Ngày nọ vào đầu mùa hạ, bốn người đang ngồi ở Phong Tình viên nghiền ngẫm bí kíp, chợt Bạch Diện Nhất Điểm quẳng sách xuống đất mà than:

- Đệ ngồi học một hồi muốn hoa mắt chóng mặt chẳng nhớ được chữ gì. Không hiểu sao Khẩu Đa Mao huynh mặt vẫn tươi như hoa móng rồng?

Họ Nguyễn cười lớn rồi nói:

- Chả giấu gì mấy vị huynh đệ, đợt vừa rồi tại hạ được lớp cử tham gia “toàn bang luận triết đại hội”, mấy cái này phải nghiên cứu qua, ở đó lại được nghe các cao nhân chỉ giáo thêm nên bây giờ mọi điểm đều đã nắm vững.

Nói đoạn đọc lèo lèo ngược từ dưới sách đọc lên. Ba người kia trố mắt nhìn rồi chặc lưỡi khâm phục trí nhớ của họ Nguyễn mà ngán ngẩm cho cái trí nhớ của mình, đoạn càng chẳng muốn học nữa bèn cất sách tán chuyện tầm phào. Chợt một tên lâu la của Trịnh Doanh hỏi:

- Thuộc hạ bấy lâu giao lưu với nhiều môn sinh khắp nơi, có học được vài thủ thuật của bọn giang hồ để đối phó với mấy kỳ thi kiểu này, không hiểu bốn vị có hứng thú muốn nghe không.

Thấy Trịnh Doanh phẩy tay ra dấu nói tiếp, hắn bèn nói:

- Theo kế này thì ta chọn trong đám lâu la lấy 10 người, 10 người lại chọn lấy 1 người chữ viết nắn nót sạch đẹp. Lấy toàn bộ bí kíp tóm tắt chép lên 1 tờ giấy tứ tự nhất bảng (A4) rồi đem ra hiệu làm tiểu tiết chụp thu nhỏ lại. Khi vào phòng thi thì giắt cạp quần, đến lúc cần thiết lấy ra để trong lòng bàn tay, vận khẩu quyết chữ “hấp” để nó không rơi xuống rồi cứ thế mà lật xem. Cái khó ở chỗ phải biết cách viết và gấp sao cho có thể đọc và giở liền mạch chỉ bằng một tay. Cách này được đám tà môn dị đạo sử dụng rất nhiều.

Khẩu Đa Mao cười khẩy ngắt lời:

- Vậy chẳng qua chỉ đi lừa dối thôi. Đâu phải cách làm của người quân tử.

Trịnh Doanh đỡ lời:

- Đúng là không phải cách nên làm, tuy nhiên vạn bất đắc dĩ các ngươi không học nổi thì đành phải dùng, gọi là “ngộ biến tùng quyền”. Chẳng thế mà thiên hạ cũng có thơ rằng:

Xưa kia thầy giáo cũng đi thi
Cũng quay tài liệu cũng cóp-pi...

Nhưng đám bọn ta đây nhất quyết không dùng, ngươi khỏi nhắc đến nữa.

Đám lâu la sợ hãi im lặng không dám hó hé gì nữa.

Chợt lúc ấy sau lưng vang lên tiếng nói:

- Khá khen cho tứ vị phong lưu công tử, lúc khó khăn vẫn tỏ rõ thói quân tử. Ta như các vị thì đã làm theo bọn chúng rồi. Các vị có chí khí như vậy chẳng hay có muốn nghe một lời khuyên không.

Bốn người giật mình quay lại thì thấy một kẻ cao to mặc quần áo vô cùng sang trọng, đi giày bóng loáng, để đầu trọc lốc như nhà sư tiến vào, dáng người rất quen thuộc.

Muốn biết người bước vào là ai, định khuyên bốn người kia điều gì, mời xem hồi sau sẽ rõ.

----------------

1
. Toàn bang luận triết đại hội: olympic triết học sinh viên mỗi năm tổ chức một lần. Các sinh viên lọt qua vòng thi viết thì đến hội trường C2 đứng trên sân khấu mà ứng khẩu phân tích những ý tứ cao thâm của cổ nhân. Phàm những người vô địch đều luyện qua bộ 4 quyển Tư Bản của Mác, đọc sách trăm nhà, chuyện gì cũng biết cũng nắm vững.

3 nhận xét:

  1. xin phép bóc tem bài này của anh huy nhá!
    bài này tuy dài nhưng mà không hay bằng bài trước anh ơi

    Trả lờiXóa
  2. @Hanh beo: ca'i na`y ta? cha^n qua' :P ko hoc Bach Khoa thi ko thay no hay =))
    @Phuong to^`: oi troi oi :(

    Trả lờiXóa
  3. Đại ca ơi, tiểu đệ xin cập nhật tình hình hí hí. Minh chủ Bách Khoa bang (gọi trưởng môn BK bang nghe hơi bé) nay bị Phong Thủy tà mê hoặc, đã cho phá Phong Tình viên, để xây dựng thành Phun Nước đài...Để tích kiệm ngân khố cho Bách Khoa bang, cả năm Phun Nước đài mới được hoạt động 1 lần vào dịp 15/10 há há =))

    Trả lờiXóa