Thứ tư, ngày 26 tháng một năm 2011

Tập thơ: tháng ngày thơ ấu (10)


Thế là cũng đến bài cuối cùng của tập thơ, không ngờ phải đến 1 năm rưỡi tôi mới post lên được 10 bài, còn lâu hơn cả khoảng thời gian 10 bài đó được viết (1 năm tròn). Khi đọc bài thơ cuối này, những kỉ niệm hiện về trong tôi cũng giống như bao kỉ niệm có trong các bài trước đó, mà tôi đã kể đi kể lại cho mọi người nghe hết rồi. Nên hôm nay xin hầu chuyện khác vậy, ấy là chuyện thơ văn.

Chắc những bài thơ đầu tiên tôi được đọc, là những bài thơ ba tôi viết trong thư. Ba mẹ tôi đều là người giỏi văn thơ nhạc họa lại cũng là những người đầu tiên dạy tôi chơi cờ. Nói theo cách cũ thì ba mẹ tôi là cầm kỳ thi họa đều giỏi cả. Chính từ khi còn bé được sống trong môi trường như thế, nên tôi cũng có ước mơ mình giỏi nhiều thứ. Chỉ trách tư chất kém cỏi, lại hơi lười nên đến giờ vẫn chẳng có gì ra cái gì. Chuyện tôi đến với âm nhạc thế nào, sẽ kể lại trong 1 chuỗi bài sắp tới. Hôm nay chỉ nói chuyện thơ văn thôi.

Quay lại chuyện thư của ba tôi, ba tôi rất hay viết thơ, thường là thơ lục bát. Ngay cả đến bây giờ, mỗi khi ba tôi gửi thiếp điện tử cho tôi, vẫn thường viết vào 1 bài thơ ngắn 4 câu, chứ không viết thành văn. Từ khi tôi biết đọc, mẹ đã cho tôi học thơ trong quyển trăm bài thơ Tố Hữu, còn ba thì đưa tôi quyển Nhật kí trong tù. Còn nhớ hồi lớp 2, tôi đã từng xung phong lên bảng đọc bài thơ Việt Bắc dài hơn chục trang, dĩ nhiên là giọng không được diễn cảm lắm nên chả ai thấy hay. Hồi đấy Nhật Minh, nhà có bố mẹ đều dạy văn, cũng thuộc lòng nhiều bài thơ, nên chúng tôi thường đọc thơ cho nhau nghe. Giá thử chúng tôi sống cách đây vài trăm năm thì có lẽ cũng vang danh 4 bể rồi. Về sau tôi đọc quyển nghìn bài thơ Đường, đọc thêm các quyển giai thoại về những danh nhân thời trước như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, cũng học thêm được nhiều điều.

Lại có 1 loại thơ nữa, tuy rất đúng luật, nhưng nội dung thì .. chả ra gì, ấy gọi là thơ Bút Tre. Thực ra cũng chẳng phải thời nay mới sinh ra loại thơ này, nếu bạn đọc cuốn truyện tiếu lâm Việt Nam, thì thấy đầy rẫy những thể loại thơ như thế, chẳng hạn có chuyện anh này vốn dốt nát, học lỏm được bài thơ vịnh con ngựa bạch, vào ứng thí lại bị bắt vịnh bà cụ, nên anh ta vịnh thế này

Bà cụ mao như tuyết
Tứ túc cương như thiết
Tướng công kỵ bà cụ
Bà cụ tẩu như phi

Dịch là

Bà cụ lông trắng như tuyết
Bốn chân cứng như sắt
Tướng công cưỡi bà cụ
Bà cụ phóng như bay

Ấy là chuyện tiếu lâm thôi, chứ chẳng ai làm thơ chữ Hán mà lại có từ bà cụ trong đấy. Tuy nhiên cái loại thơ này vô cùng đúng luật gieo vần, cũng như luật bằng trắc, nên các bạn chớ nhầm nó với thơ con cóc, là cái thể loại thơ câu cú lủng củng, không có vần cũng chả có điệu, nhan nhản trên các diễn đàn ngày nay.

Quay lại thơ chính luận, đọc nhật kí trong tù, cũng như thơ Tố Hữu, tôi không thấy rung động vì tính "cách mạng" trong đấy (mà tôi cũng ngờ là tác giả không có ý lên gân lên cốt gì khi viết ra những bài thơ ấy), tuy nhiên lại thấy ngất ngây trước những câu thơ tuyệt tác tả cảnh.

Chẳng hạn trong "Từ Cu Ba" của Tố Hữu, tác giả viết

Nửa vòng trái đất rẽ tầng mây
Anh đến Cu Ba một sáng ngày
Nắng rực trời tơ và biển ngọc
Đào tươi 1 dải lụa đào bay

Em ạ Cu Ba ngọt lịm đường
Lúa xanh đồng bãi biếc đồi nương
Cam ngon xoài ngọt vàng nông trại
Ong lạc đường hoa rộn bốn phương

Có thể nói không khoa rằng viết như vậy cũng là tuyệt tác rồi. Trong thơ có cảnh vật, có màu sắc, có ánh sáng, cỏ cây hoa lá, lại có cả mùi vị, cảnh không tĩnh mà động, bởi lụa bay, bởi ong lạc hoa.

Hay trong "Việt Bắc", Tố Hữu viết,

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Đọc lên như thấy cả âm thanh cả màu sắc hương vị, bức tranh thật lãng mạn mà không cần vẽ ra vẫn cảm nhận được.

Quay sang thơ Nhật ký trong tù, tôi nhớ mãi 2 câu thơ này trong bài "Hoàng hôn"

Viễn tự chung thanh thôi khách bộ,
Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy.

Dịch là

Chùa xa chuông giục người nhanh bước
Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay

Chỉ đọc 2 câu này, là đã cảm thấy 1 cảnh rừng núi thảo nguyên bát ngát, có người thứ lữ đang đi trên con đường chiều. Cái hay và đẹp nhất của thơ Đường luật nói riêng và thơ chữ Hán nói chung, là dùng rất ít từ để miêu tả được cảnh vật, chỉ với 2 từ viễn tự (chùa xa) và chung thanh (tiếng chuông) cũng đã tả được cái cảnh bát ngát của không gian rồi. Vì nếu không bát ngát thoáng đãng, thì sao mà nhìn được chùa, và càng không nghe được tiếng chuông tiếng sáo. Thực ra câu cuối là lấy trong 2 câu thơ của Đỗ Mục thời Đường

Tá vấn tửu gia hà xứ hữu
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn

Nghĩa là, hỏi thăm quán rượu ở nơi đâu, trẻ chăn trâu chỉ về phía Hạnh Hoa thôn.

Nếu thơ của Tố Hữu tả cảnh Việt Nam một cách rất thuần Việt, thì thơ Bác Hồ tả cảnh rất ước lệ, truyền thống. Ví như xem tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ đường phố Hà Nội, đối lập với xem tranh thủy mặc của các tác gia Trung Quốc, mỗi bên một vẻ . Trong những bức tranh thơ ấy, nổi bật lên là những rừng núi trùng điệp, không thì cũng là những con sông thơ mộng, và không thể thiếu được ngôi chùa, hay ít ra là tiếng chuông chùa, ví như bài "Phong kiều dạ bạc" của Trương Kế thời Đường

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Tôi tạm dịch nghĩa

Trăng rơi xuống nước, tiếng quạ kêu rúc trong sương phủ đầy trời
Trên sông gió thổi, trên thuyền câu có ảnh lửa, cảnh vật đối lập mang lại nỗi buồn mênh mang
Ngoại thành Cô Tô có chùa Hàn San
Nửa đêm có tiếng chuông đến thăm người khách trên thuyền

Đi một vòng giờ ta quay lại tập thơ, vốn tập thơ này do bác tôi viết. Sau này tôi đọc lại nhiều lần, mỗi lần lại cảm nhận được thêm 1 cái hay cái đẹp trong những bài thơ ấy. Trong những câu thơ tôi thích nhất, có 2 câu trong bài "Ô tô bác Vân"

Thủ đô một chiều về
Trời hoàng hôn màu tím
Sau tán cây, ngôi sao hôm rung rinh ẩn hiện
Dưới ánh đèn thạch anh, man mác dạ lan hương
Bác nói về Ba, trăm nhớ ngàn thương …

1 cách nào đó, những câu thơ này cũng đã vẽ lên được cảnh chiều Hà Nội trên phố cổ. Cũng không thể bỏ sót đoạn thơ thật đẹp trong bài "Nhớ ngày tiễn Ba đi"

Xe mau ra khỏi ngoại ô
Cầu Thăng Long nối đôi bờ lúa xanh
Sông Hồng nước đỏ mông mênh
Xa xa Tam Đảo bồng bềnh trắng mây

Bài thơ cuối cùng này, kể về tuần lễ trước khi ba tôi về, lại có cảnh lên sông Hồng chảy dài, nhưng lần này với 1 tâm trạng khác hẳn. Mời các bạn cùng đọc.

Sắp đến ngày ba về
Chỉ một tuần lễ nữa
Một tuần sao dài ghê
Từng ngày lùi chậm quá

Bảy ... sáu ... rồi năm ngày
Bốn ... ba ... mãi còn hai
A ngày kia là đến
Chuẩn bị sang sân bay

Ô tô rời Hà Nội
Mãi mới cầu Thăng Long
Ôi sông Hồng sao mênh mông
Để cầu dài như vô tận

Xe nhanh vẫn thấy chậm
Sân bay xa ... còn xa
Mau lên, ... máy bay tới
Cho em đón kịp Ba ...

20-11-1988

2 nhận xét:

  1. Viet hay the - ngay xua anh viet va(n bi`nh tho* chac diem cao lam :-s

    Co dieu la` ca ba`i viet toan ve tuyet tac tho ca, co^? co^?, den bai` cuoi tho trong sa'ng qua' - lam "hut hang" phe^'t :P

    Trả lờiXóa
  2. Thì ý tưởng là kể chuyện linh tinh, rồi cuối cùng lôi bài thơ ra thôi chứ thực ra cũng không liên quan lắm :">

    Trả lờiXóa